Một số phương pháp luận về xây dựng khối đoàn kết tôn giáo trong tư tưởng Hồ Chí Minh

01/05/2010

NGÔ MINH THUẬN

Khoa Triết học và Chính trị học, Học viện Chính sách và Phát triển

Sau hơn hai thập niên đổi mới, hiện nay đất nước ta đang đẩy mạnh hội nhập toàn cầu hóa nền kinh tế. Bên cạnh những thời cơ thuận lợi đem lại, chúng ta còn phải đối mặt với rất nhiều thách thức lớn; đặc biệt là trước âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực phản động trong và ngoài nước đang hàng ngày, hàng giờ tìm cách lợi dụng những vấn đề về tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền... để tìm cách phá vỡ khối đoàn kết toàn dân, đoàn kết tôn giáo, tạo ra những mâu thuẫn bất đồng trong Đảng và trong nhân dân, thông qua đó làm suy yếu hệ thống chính trị ở Việt Nam. Quan triệt và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo, chúng ta sẽ thực hiện thành công việc xây dựng khối đoàn kết toàn dân, đoàn kết tôn giáo; đồng thời góp phần quan trọng vào việc thực hiện thắng lợi đường lối chiến lược cách mạng Việt Nam “Độc lập dân tộc, tiến lên chủ nghĩa xã hội”. 
 Untitled_877.png
Ảnh minh họa: nguồn internet
1. Tích cực tuyên truyền, khai thác các giá trị nhân bản trong các tôn giáo nhằm tập hợp lực lượng toàn dân
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, muốn đoàn kết tôn giáo cần phải tích cực tuyên truyền, giáo dục và vận động đồng bào tín đồ các tôn giáo đi theo cách mạng. Trong quá trình tuyên truyền, giáo dục cần khai thác tốt các giá trị nhân bản, giá trị đạo đức trong các học thuyết tôn giáo nhằm tập hợp lực lượng tín đồ yêu nước trong các tôn giáo tham gia xây dựng khối đoàn kết toàn dân, đoàn kết tôn giáo. Nét nổi bật nhất trong phương pháp trên của Người là sự tiếp thu có chọn lọc các tư tưởng nhân văn, đạo đức trong các tôn giáo trên nền tảng của chủ nghĩa yêu nước nhằm hướng tới mục tiêu “Độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc”. Vì vậy, trong suốt quá trình vận động đồng bào tín đồ các tôn giáo, Người luôn lấy tấm gương và đức hy sinh của các nhà sáng lập ra học thuyết các tôn giáo cùng với nhiều bài nói, bài viết và những lời văn của các bậc thánh hiền rút ra trong kinh Phật, kinh Thánh trên cơ sở chọn lọc, chuyển tiếp hài hòa những ngôn từ của các bậc tiền bối vào việc thực hành đạo đức trong đời sống xã hội cho thích hợp với thời đại của dân chúng mà tinh thần cơ bản không hề thay đổi, coi đó làm cơ sở nền tảng trong việc tập hợp lực lượng và giáo dục lòng yêu nước đến đồng bào tín đồ các tôn giáo. Trong suốt quá trình vận động đồng bào tín đồ các tôn giáo đi theo cách mạng, Người đã có nhiều bài nói, bài viết sử dụng tinh thần trong các giáo lý để tập hợp nhân dân. Ngày 20/9/1964 trên báo Chủ nghĩa, Người lấy tinh thần kinh Thánh để giáo dục tinh thần đoàn kết tôn giáo trong nhân dân: “Kinh Thánh có câu: ý dân là ý Chúa, con đường yêu nước mà đồng bào đang đi là hoàn toàn đúng, tôi mong các vị phụ lão, các vị giám mục, linh mục hăng hái khuyến khích tín đồ trong mọi công việc ích nước, lợi dân. Lương giáo đoàn kết, cả nước đồng lòng”[1]. Bên cạnh đó, Người còn nêu cao tinh thần nhân văn, đạo đức và đức hy sinh cao cả của Đức Thiên Chúa, Đức Phật nhằm kêu gọi giáo dân, phật tử phấn đấu noi theo và tích cực đấu tranh để giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc. Người nói: “Chúa Cơ đốc sinh ra làm gương mọi giống phúc đức như: hy sinh vì nước, vì dân, làm gương lao động, công bằng ruộng đất, tin thờ Chúa bằng tinh thần” Và “chúng ta kháng chiến cứu nước, thi đua tăng gia sản xuất và tiết kiệm, cải cách ruộng đất làm cho người cày có ruộng, tín ngưỡng tự do. Như thế là những việc Chính phủ và nhân dân ta làm đều hợp với tinh thần Phúc âm, thế là chúng ta đã làm theo lòng đại từ bi của Đức Phật Thích Ca; noi theo tinh thần cao cả của Chúa Giê - su, kháng chiến để đưa giống nòi ra khỏi khổ ải nô lệ, và cũng là để giữ gìn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo”[2]. Những bài nói, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có sức mạnh tinh thần rất to lớn, đã lay động và lôi kéo rất nhiều hàng ngũ giáo sỹ, tu sỹ cùng các tín đồ tôn giáo yêu nước chân chính tích cực tham gia vào các cuộc đấu tranh vì mục tiêu: “Độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc”.
Như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người tiên phong trong công tác vận động, tuyên truyền và giáo dục đồng bào tín đồ các tôn giáo tham gia xây dựng thành công khối đoàn kết tôn giáo. Là một nhà hoạt động cách mạng chuyên nghiệp, nhưng khác với các nhà hoạt động cách mạng khác, Người có sự kế thừa, vận dụng và kết hợp hài hòa các giá trị tinh hoa văn hóa nhân loại trong nhiều học thuyết tôn giáo và học thuyết xã hội, để kêu gọi, tập hợp đồng bào vào một mặt trận chung. Nhờ đó, Người đã nhanh chóng quy tụ được sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân, đoàn kết tôn giáo hướng vào sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc. Đây chính là phương pháp cách mạng khoa học, sáng tạo mang đậm tính nhân văn sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Phương pháp trên đã góp phần quan trọng vào việc đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu xâm lược của thực dân Pháp và sau này là đế quốc Mỹ ở Việt Nam. Thắng lợi của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam, thực chất là thắng lợi của tư tưởng đại đoàn kết toàn dân, đoàn kết tôn giáo mang tính chiến lược cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
2. Tôn trọng giáo chủ, tranh thủ tình cảm của các giáo sỹ và quan tâm đến lợi ích của toàn dân
Trong quá trình xây dựng khối đoàn kết tôn giáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo của nhân dân mà còn tỏ rõ lòng tôn kính, cầu thị học hỏi những ưu điểm tiến bộ từ hàng ngũ các Giáo chủ, Giáo sỹ, Linh mục, Đức Cha và các chức sắc tu hành, cũng như học hỏi từ những người sáng lập ra các học thuyết tôn giáo. Người nói“Học thuyết Khổng Tử có ưu điểm của nó là tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo Giê - su có ưu điểm của nó là lòng nhân ái cao cả. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm của là phương pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó phù hợp với điều kiện ở nước ta.
Khổng Tử, Giê - su, Các Mác chẳng có những ưu điểm đó sao? Họ là những người mưu cầu hạnh phúc cho loài người, mưu cầu hạnh phúc cho xã hội.
Nếu hôm nay họ còn sống trên đời này, nếu họ hợp nhau thành một khối, tôi tin rằng họ nhất định sẽ chung sống với nhau hòa bình như những người bạn thân thiết. Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy”[3].
Ngoài ra, trong suốt quá trình vận động đồng bào tín đồ các tôn giáo tham gia xây dựng khối đoàn kết tôn giáo, Người có rất nhiều bài nói, bài viết đề cập đến công lao, đức hy sinh của những bậc tiền bối đã sáng lập ra các học thuyết tôn giáo ở các mức độ và khía cạnh khác nhau với thái độ tôn kính. Người nói: “Đức Giê - su hy sinh cho loài người được tự do, hạnh phúc”[4]; “Phật Thích ca là tấm gương đại từ, đại bi, cứu khổ, cứu nạn, muốn cứu chúng sinh ra khỏi khổ nạn...”[5]. Bên cạnh việc Chủ tịch Hồ Chí Minh tôn trọng những bậc tiền bối đã sáng lập ra các học thuyết tôn giáo, thì Người luôn chủ động và cố gắng làm hết sức mình để vun đắp cho “phần xác no ấm, phần hồn được thong dong”.
Chính bằng thái độ và tình cảm tôn trọng giáo chủ, tranh thủ tình cảm của các giáo sỹ và quan tâm đến lợi ích của toàn dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lôi kéo được đông đảo đồng bào tín đồ yêu nước tham gia xây dựng khối đoàn kết toàn dân, đoàn kết tôn giáo, góp phần quan trọng trong việc thực hiện thắng lợi mục tiêu “Độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc”.
3. Phân biệt giữa tổ chức giáo dân chân chính với các tổ chức và cá nhân giả danh tôn giáo
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định, muốn thực hiện thành công sự nghiệp cách mạng, trước hết phải xây dựng thành công khối đoàn kết toàn dân; đặc biệt là đoàn kết đồng bào tín đồ các tôn giáo. Do đó, để làm tốt nhiệm vụ trên, người làm cách mạng phải phân biệt được rõ “bạn - thù”; tổ chức và cá nhân giáo dân chân chính với các tổ chức và cá nhân giả danh tôn giáo, muốn lợi dụng vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo, đức tin để nhằm chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo, làm phương hại đến lợi ích của Tổ quốc và nhân dân. Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người tiên phong trên mặt trận đấu tranh vạch trần các tổ chức và cá nhân đội lốt tôn giáo nhằm phá vỡ thành quả cách mạng của nhân dân, với quan điểm và lập trường rõ ràng “hãy xem họ làm, và đừng vội nghe họ nói”; tức phải dựa vào suy nghĩ, hành động cụ thể chứ không dựa vào vài ba lời lẽ xu nịnh, xúi giục, gây ra sự bất hòa trong Đảng và trong nhân dân. Người khẳng định, giáo dân chân chính phải là người yêu nước, có tinh thần đoàn kết dân tộc. Kẻ giả danh tôn giáo là những người phản Chúa, can tâm “bán nước, cầu vinh” làm tay sai cho giặc. Do đó, để phân biệt được rõ “chính - tà”, “bạn - thù”, Người luôn nhấn mạnh đến vai trò và trách nhiệm của đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo, công tác dân vận, phải có ý thức bền bỉ, kiên trì mới phân biệt được đâu là tổ chức giáo dân chân chính và đâu là tổ chức và cá nhân giả danh tôn giáo. Thực tế chỉ ra, trong suốt quá trình hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kiên trì, bền bỉ đấu tranh chống lại những kẻ giả danh tôn giáo nhằm bảo vệ khối đoàn kết tôn giáo trong nhân dân, đồng thời “tẩy trừ những bọn phản Chúa, hại quốc, hại dân”. Người nói: “Những người Việt Nam theo Pháp và bù nhìn, chẳng những là Việt gian, mà cũng là giáo gian. Còn những đồng bào Công giáo kháng chiến mới là tín đồ chân chính của Đức Chúa, vì những đồng bào ấy thật thà phụng sự Đức Chúa, phụng sự Tổ quốc”[6], “Ngô Đình Diệm là người Công giáo, cũng giống như Giu - đa là người Công giáo, Ngô Đình Diệm đã lợi dụng Chúa để làm ô danh Chúa, lợi dụng đồng bào để giết hại đồng bào”[7]. Cùng với việc Chủ tịch Hồ Chí Minh kiên quyết, bền bỉ đấu tranh vạch trần các tổ chức và cá nhân giả danh tôn giáo nhằm phá vỡ khối đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo, thì Người còn kiên trì, nhẫn lại với những lời lẽ chân tình, tha thiết và một tấm lòng nhân đạo chủ nghĩa mở rộng, vị tha cho những kẻ lầm đường, lạc lối. Người nói: “Trừ bọn Việt gian ít người, đồng bào ai cũng có lòng yêu nước; tuy có một số đồng bào lầm lạc, qua một thời gian, những người ấy dần dần giác ngộ trở về với Tổ quốc”[8].
 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân biệt rõ “chính - tà”, “bạn - thù”; phân biệt các tổ chức giáo dân chân chính với tổ chức và cá nhân giả danh tôn giáo. Qua sự phân biệt rõ ràng đã góp phần củng cố và tăng cường khối đoàn kết tôn giáo, tạo ra sự đồng thuận trong Đảng và trong nhân dân hướng đến thực hiện thắng lợi mục tiêu “Độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc”.
 
Ngày nay, tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị thực tiễn và khoa học trong công tác vận động đồng bào tín đồ các tôn giáo tham gia xây dựng khối đoàn kết tôn giáo; đồng thời góp phần quan trọng vào việc đấu tranh và ngăn chặn kịp thời các âm mưu muốn lợi dụng vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền... để nhằm chia rẽ tôn giáo, dân tộc, làm phương hại đến lợi ích của quốc gia, dân tộc Việt Nam. Vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng khối đoàn kết tôn giáo, chúng ta sẽ củng cố, xây dựng và tăng cường khối đoàn kết tôn giáo ở Việt Nam hiện nay, tạo nên sức mạnh to lớn để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.  
 

 


[1]Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 11, Nxb CTQG, HN, 1996, tr.314.
[2]Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 7, Nxb CTQG, HN, 1996, tr.197.
 
[3]Nho giáo xưa và nay, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 1991, tr.15-16.
[4] Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 1, Nxb CTQG, HN, tr.50.
[5]Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 5, Nxb CTQG, HN, tr.179.
[6]Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 6, NXB CTQG, HN, 1995, tr.443.
[7]GS.TS Lê Hữu Nghĩa, PGS.TS Nguyễn Đức Lữ đồng chủ biên, Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và công tác tôn giáo, Nxb Tôn giáo, Hà Nội, 2003, tr. 25.
[8]Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 5, NXB CTQG, HN, 1995, tr.442.
 

(Nguồn tin: Bài viết đăng tải trên Ấn phẩm Nghiên cứu lập pháp số 10(171), tháng 5/2010)


Thống kê truy cập

33048002

Tổng truy cập